Cô Hai Và Những Ký Ức Tươi Đẹp Của Tuổi Thơ Tôi

Về quê tiễn biệt cô Hai, người gắn liền với nhiều ký ức tươi đẹp của tuổi thơ tôi, người dạy tôi những bài học kinh tế đầu đời, và niềm vui của một đời sống bình dị. Cô đi rồi, một mảng tuổi thơ tôi cũng nhuốm màu thiên cổ. Thời thơ ấu đã xa, người giờ cũng đã xa, chỉ có những kỷ niệm tươi đẹp là còn mãi.

Cô tôi mất bất ngờ, nhưng cũng không bất ngờ. Sức khỏe người già như bậc thang, đi ngang có thể được dài, nhưng rồi đột nhiên rơi xuống 1 nấc. Tháng tư rồi cô nhập viện, tôi về thăm, thấy cô đã yếu nhiều. Tôi nghĩ hè này khi ông bà về quê phải cho con gái theo thăm cô, nhưng mới đầu hè đã nghe tin cô lại nhập viện và hôn mê. Vậy là không kịp cho cô thấy bé đã lớn thế nào lần cuối.

1. Ký Ức Tuổi Thơ

Ký ức thơ ấu của tôi bắt đầu ở quê khi 3 tuổi, vì ba mẹ đi Liên Xô gửi tôi về sống với bà nội. Dưới quê có nhà bà nội, nhà bà Mười, và nhà cô Hai. Trong đó, tôi thích nhà cô Hai nhất vì nó là một biệt thự Pháp ở chéo bên kia đường nhà bà nội. Với đứa nhóc 3 tuổi chỉ cao tới đầu gối, căn biệt thự đó như một lâu đài cổ tích khổng lồ. Hàng rào nó cao gấp 2-3 lần tôi, và tường cao chắc gấp 2-3 thế. Nếu tính tỷ lệ với chiều cao 1.7m của tôi ngày nay, nó như tòa lâu đài với hàng rào cao 3.5-5m, tường cao 7-10m, cực kỳ hoành tráng. Hàng rào được xây bằng các thanh gạch phẳng dễ leo và có thể ngồi lên trên, không như loại hàng rào thanh sắt ngày nay. Các khung cửa sổ nó cao dày như hay thấy ở các tòa nhà Pháp cổ, có thể ngồi ở trong được. Vậy nên tôi rất thích qua nhà cô dượng, trèo lên cao ngồi hóng mát, rồi vào trong nhà, nơi có bộ sofa cùng TV đầu máy (hàng hiếm những năm 8x), nghỉ mệt, ăn trái cây, xem TV. 

Đằng sau nhà là một cái sân, rồi nhà bà giúp việc cô. Con/cháu bà là những người bạn đầu đời của tôi. Đối diện nhà cô là một tòa nhà cũng rất lớn và dài, cũng có hàng rào cao gấp 2-3 lần tôi để leo trèo, nhưng khó hơn. Tôi vẫn nhớ có lần mình ráng leo lên đỉnh của nó rồi không biết sao leo xuống, kêu khóc quá trời cho đến khi được người đi ngang đỡ cho xuống. Vỉa hè của nó là một sân trống dài rộng tụi trẻ hay tụ tập vui chơi. Ở quê tôi ngày ngày đi lòng vòng khắp nơi, kiếm bạn để chơi, kiếm người rảnh để nói chuyện. Tôi đi qua nhà bà Mười, dọc con đường nhà bà nội, nhưng hẳn tòa lâu đài cổ tích nhà cô Hai là điểm tôi yêu thích nhất.

5 tuổi tôi về lại Sài Gòn, nhưng mỗi hè vẫn về quê, vẫn đi lòng vòng khắp nơi, kiếm người để chơi và trò chuyện, leo trèo vận động hóng mát quanh lâu đài cổ tích, mệt thì vào ngồi sofa ăn trái cây xem TV… Tôi thích đời sống dưới quê đến độ sau này khi đi du học ở Singapore, tôi hay nói mình là người Cần Thơ, dù gặp dân Cần Thơ thiệt thì bị phát hiện là chẳng biết tí gì về Cần Thơ (quê tôi cách đó 30km), và giọng nói cũng khác. Việc tôi nhận mình là người Cần Thơ có lẽ chỉ là ước muốn được sống mãi tuổi thơ dưới quê đó.

2. Những bài học kinh tế đầu đời

Bên cạnh bà nội [1] thì cô Hai là người đã dạy tôi những lẽ sống đầu đời, đặc biệt là về kinh tế. Như có lần cô cho tôi tiền để thuê 1 băng cassette về xem. Tôi sung sướng chạy đi thuê về bỏ vào đầu máy, và phát hiện ra mình đã coi phim đó rồi. Tôi đành xin cô tiền để đi đổi phim khác, và nhận được bài học kinh tế đầu đời: “Thôi ông ơi, đừng phí tiền tôi. Tiền tiêu xong là mất, hoặc ông xem lại, hoặc thôi không xem”. Vậy là tôi ngậm ngùi xem lại phim cũ và khắc ghi 3 nguyên tắc kinh tế đầu đời:

1. Đừng phí tiền.

2. Tiền tiêu xong là mất.

3. Phải chấp nhận chọn cái tốt hơn giữa những cái mình không thích.

Cô dượng tôi làm kinh doanh, là chủ doanh nghiệp. Mỗi khi ăn cơm chung với cô dượng, ngoài các câu chuyện về đời sống, tôi còn được nghe bàn bạc việc kinh doanh và quản lý. Chúng cơ bản thường là công ty có vấn đề gì, nhân công có chuyện gì, và xử lý ra sao… Tôi từng thấy dượng tôi mắng một anh suốt nửa tiếng vì tội tính toán dở, lãng phí, không được việc… đến nỗi anh ấy ra ngoài ngồi khóc. Chúng cho tôi góc nhìn của người chủ doanh nghiệp, và rút ra những bài học kinh tế như:

4. Đừng bỏ qua những thất thoát lãng phí nhỏ. (Như hao hụt 1000đ/ca/công nhân, ngày 2 ca, 200 công nhân, 1 năm 365 ngày là sẽ mất tới 146 triệu tiền lời năm. Chỉ 1000đ thất thoát nhỏ mà ra mất tới 146 triệu cả năm, tính vậy là thấy xót.)

5. Phải để ý các rủi ro mà phòng tránh.

6. Làm phải có tâm, thấy giúp người ta được gì thì giúp. 

7. Phải tính sao cho gọn gàng, đơn giản, và hiệu quả.

Cô dượng làm ăn không ồn ào hay bùng nổ như các shark ngày nay, nhưng bền chắc, ít rủi ro, nhiều tích lũy. Bà nội tôi có 6 người con, ba và bác tôi làm giảng viên đại học, còn các cô thì buôn bán, trong đó 2 cô rất thành đạt. Vậy nên tôi được nghe nhiều về việc kinh doanh và thấy rất thích, tính chuyện buôn bán vận hành công ty thực tế và thú vị. Tôi từng vào phòng sale thử duyên kinh doanh, nhưng chắc gene buôn bán của ông bà nằm ở nữ nên được 2 năm tôi thấy mình không có khiếu nên quay lại làm kỹ thuật. Có vẻ tôi giống ba và bác, thích tìm hiểu, phân tích, chia sẻ… nhưng hơi thiếu thực tế, nhác cạnh tranh, nói chuyện hay diễn giải dài dòng không có uy… Vậy thôi, không làm chủ được thì tôi làm nhân viên cho tốt vậy: giỏi việc, hiệu quả, và hiểu góc nhìn của sếp. Không giàu nhưng cũng sống ổn.

Trong đời sống, cô Hai cũng áp dụng tư duy gọn gàng hiệu quả như làm ăn. Cô nấu ăn rất ngon, ngày xưa theo phụ bà Năm là thợ nấu ngon nhất vùng (nghe kể bà đi đâu ăn món gì là về có thể nấu lại đúng món ấy). Nhưng điều ấn tượng nhất là cô nấu ăn rất gọn gàng hiệu quả, mọi thứ được sắp xếp tiện lợi, nhanh chóng không một động tác thừa. Cô canh nấu chỉ vừa đủ, ăn hết còn có thòm thèm muốn thêm, nhưng thật ra không đói. Tôi cũng cố gắng quản lý đời sống cá nhân mình cho đơn giản, tiện lợi, hiệu suất cao… Nó giúp tôi làm được nhiều điều, dù hay bị suy nghĩ đơn giản quá so với thực tế đời sống.

3. Niềm Vui Của Đời Sống Bình Dị

Khi tôi lên cấp 2, cô dượng rời lâu đài cổ tích dưới quê ấy lên Đồng Nai khai hoang làm 1 nông trường cao su rộng 500 hecta. Lần đầu tiên tôi lên chơi còn chưa có đường, phải đi xe máy cày, và tất nhiên chẳng có điện hay đèn đường. Đêm xuống là tối thui, chỉ có ánh trăng mờ ảo và đom đóm bay lấp lánh. Đi đâu phải mang ủng và cẩn thận bò cạp rắn rết. Cô dượng sống ở căn nhà giữa nông trường, cũng to nhưng tất nhiên không thể bằng căn biệt thự Pháp dưới quê, hàng rào cửa sổ bằng thanh sắt đơn giản. Và khi đó tôi đã lớn rồi chẳng thấy nó hoành tráng như lâu đài nữa, dù cũng rộng rãi cao thoáng. Nhà tôi rất ngưỡng mộ cô dượng vì sẵn sàng rời bỏ căn biệt thự tiện nghi ngay chợ dưới quê đi lên rừng khai hoang như vậy.

Ở trên đó thì dượng tôi chạy lòng vòng quản lý đồn điền, còn cô tôi ở nhà quản lý tài chính. Quanh nhà cô trồng 1 cái vườn với đủ các loại từ rau cỏ tới mãng cầu, bòn bon, chôm chôm, chuối, sơ-ri, mít, khóm… Cô nuôi thả một đàn gà vài chục con, từng có cả gà lôi, cùng 3-4 con chó. Đằng sau nhà có một con suối để câu cá. Cá thường chỉ to cỡ 2 ngón tay, câu cả buổi may mắn thì được dĩa cá chiên nhỏ. Thứ lớn nhất tôi từng câu được là một con gà. Nó thấy con giun móc lưỡi câu ngon lành nên nuốt luôn, vậy là cô đành cho nó lên dĩa. 

Ở trên đó cô tôi thức dậy từ 3-4g sáng để cho gà ăn, xong nấu ăn sáng, rồi đi coi vườn. Xong cô làm gì đó, rồi nấu cơm trưa. Nghỉ trưa xong làm gì đó, rồi đến bữa chiều. Tối chạy máy điện sáng đèn chút rồi cỡ 7-8g đi ngủ (trừ khi dượng thức coi đá banh). Làm gì đó là kiểm tra sổ sách chi tiêu, xắt thân chuối cho gà ăn, hay may áo, làm gối nệm (tối qua tôi còn nằm ngủ trên cái nệm bông gòn cô cho). Đời sống không dịch vụ ăn chơi mua sắm, chỉ có niềm vui trong công việc tay chân chăm sóc nhà cửa, vườn cây, con thú, ở giữa thiên nhiên.

Nông trường của cô dượng trở thành điểm đến nghỉ hè yêu thích của tôi. Lên đó tôi đi dạo vòng quanh như đi trekking ở rừng, hái trái cây, câu cá… hay nằm trên cái võng ngoài hiên mà ngắm vườn, xem gà, vuốt ve mấy con chó… Nói chung là thưởng thức sự thư giãn của đời sống thiên nhiên vườn tược cùng các món ăn của cô, tách biệt khỏi điện máy và mọi thứ hiện đại. Tôi nghe kể 1 công nhân ở đó nói tôi giống với mấy con chó của cô. Nah, nói vậy là sai, chó nó ăn đồ thừa, tối ngủ ngoài giữ nhà, còn thằng cháu ăn đồ ngon tối còn ngủ kỹ hơn cả bà chủ. 

Có lẽ đời sống dưới quê và ở nông trường cô dượng đã cho tôi trải nghiệm niềm vui của cuộc sống thôn quê bình dị giữa thiên nhiên, trái ngược với cuộc sống điện máy hối hả chốn đô thị. Nó khiến tôi ý thức rõ ràng hơn những gì con người đã đánh đổi khi hiện đại hóa. Khu vườn với đủ loại cây trái cùng gà và chó của cô dượng giúp tôi hình dung về những phước hạnh mà Đức Chúa Trời thiết kế con người từ thuở Sáng Thế. Đó là vườn Ê-đen với đủ các thứ cây trái nhìn thì đẹp, ăn thì ngon, có các con sông chảy qua, cùng đủ loại chim thú (Sáng Thế Ký 2). Với tất cả những vấn đề mà con người ngày nay gặp phải trong đời sống hiện đại, tôi thấy quả thật thiết kế xa xưa của Chúa vẫn tốt đẹp cho con người hơn những gì họ tham muốn theo đuổi. 

Tất nhiên là tôi cũng biết đời sống dưới quê không dễ dàng nhẹ nhàng như trải nghiệm về quê của mình. Thực tế tôi vẫn làm kỹ sư máy tính, sống chung cư cao tầng, luôn có điện thoại cầm tay kết nối mạng đúng đời sống hiện đại. Thế thời nó thế và thế thời đành phải thế. Nhưng tôi vẫn cố gắng tránh TV điện thoại mà vui với vận động tay chân, chia sẻ trò chuyện, ra công viên phơi nắng ngắm cây cối sông nước, về với thiên nhiên khi nghỉ lễ. Và tôi rất thích đọc về nông nghiệp thiên nhiên [2], lĩnh vực nghiên cứu cách làm nông không dùng hóa chất máy móc, dùng vi sinh, cỏ cây, côn trùng, và muôn vật để gia tăng năng suất, quản trị sâu bệnh. Sau này khi có điều kiện tôi hy vọng có thể thực nghiệm chúng để xây dựng vườn Ê-đen của mình. 

(Mà có khi tôi phải đợi tới đời sau, khi cùng Chúa Giê-xu từ thiên đàng quay lại trái đất (Khải Huyền 19-20). Đời này có lẽ con người sẽ cứ mỗi ngày một hiện đại, máy móc, kết nối mạng hơn. Kinh Thánh nói con người sẽ tiến tới xã hội không tiền mặt buôn bán trao đổi qua con dấu (Khải Huyền 13:16-17), và sẽ thờ lạy hình tượng không còn vô tri nữa mà sẽ biết nói, biết tương tác, và biết trừng phạt những ai không thờ lạy mình (Khải Huyền 13:14-15).)

4. Tưởng Niệm

Thời gian thấm thoát trôi qua. Lúc ba mẹ gửi về quê sống với bà nội thì tôi mới 3 tuổi, giờ tôi đã 41. Lâu đài cổ tích ngày nào đã bị xây lại thành nhà hiện đại kiêm khách sạn và cửa hàng. Thị trấn quê cũng hiện đại hóa, mở rộng, chợ búa đường xá xe cộ náo nhiệt. Cô dượng nay đã hơn 80 tuổi, đầu tóc bạc phơ, đã rời nông trường về lại quê.

Sinh lão bệnh tử. Cô bị suy thận, phải lọc máu, lâu nay duy trì cũng ổn định, chỉ bị sức khỏe yếu không đi xa được. Tự nhiên dạo gần đây thỉnh thoảng việc lọc máu bị trục trặc phải nhập viện. Rồi lần đó cô nhập viện, mê sảng, rồi hôn mê.

Dượng tôi đã gần 85 tuổi mà vẫn khỏe mạnh minh mẫn, khi cô nhập viện thì dượng luôn theo chăm. Mọi người luôn phục dượng vì việc chăm người bệnh ở bệnh viện rất cực, đèn luôn sáng, người đông đúc qua lại ồn ào, khó ngủ, môi trường mệt mỏi bệnh tật. Vậy mà dượng luôn muốn tự mình chăm sóc, không muốn để ai thay ca. Cực vậy tụi trẻ ngày nay không biết có chịu nổi không, đừng nói ông cụ gần 85 tuổi. 

Cô và dượng biết nhau từ nhỏ, nhà xéo nhau hai bên đường. Lên cấp 2 đã là bạn, cấp 3 cùng lên Sài Gòn học, và học xong là cưới. Cả hai đã cùng nhau đi qua biết bao khó khăn, đặc biệt là thời bao cấp thiếu thốn vừa đi làm vừa buôn bán (chị họ tôi kể lớp 2 đã biết nấu cơm bếp củi, rồi mua rau quả đem ra chợ bán, hơn 10 tuổi còn đi xe đò buôn đường, buôn tới cả rượu… nghe như chuyện thế giới khác). Rồi cô dượng cùng lên rừng, khai hoang, vận hành nông trường đến khi về quê nghỉ hưu… Cả đời bên nhau, tình cảm của cô dượng có khi giới trẻ ngày nay (kết hôn muộn, sáng đi tối mới gặp, ở nhà cũng ít nói chuyện vì bận đủ thứ và lướt điện thoại, cứ 3 cặp kết hôn thì 1-2 cặp ly hôn…) chẳng thể nào hình dung.

Khi cô hôn mê, dượng luôn túc trực cạnh bên, cần thì chui xuống gầm giường ngủ chứ không về vì sợ nếu cô mở mắt thì không kịp có mặt. Mẹ tôi rớm nước mắt kể có lần bác sĩ thấy cô có động tịnh liền gọi. Dượng lập tức chạy vào ôm lấy cô và nói “Hồng Lan ơi anh đây”. Chỉ số điện tim và huyết áp cô nhảy vọt như thể cô có cảm nhận và đáp ứng, dù vẫn hôn mê. Nghe kể mà tôi thấy như tình cảm đôi bạn nhà chéo bên đường cùng lên Sài Gòn học ngày nào, không phải là hai cụ già đã hơn 80 tuổi, chỉ còn 20 ngày nữa là kỷ niệm 60 năm ngày cưới.

Người ta hay nói 60 năm cuộc đời, cô tôi được trên 80 dẫu gì cũng có thể tính là thọ (dù cao tuổi nhất ở nghĩa trang dòng họ lên tới 91). Cũng có những lúc khó khăn, đặc biệt là giai đoạn 75-85, nhưng nhìn chung cô dượng đã có cuộc sống thành đạt, kinh tế dư dật, nhiều trải nghiệm, con cháu thành công. Cảm ơn cô dượng đã cho tôi những ký ức tuổi thơ đẹp đẽ với lâu đài cổ tích, những kỳ nghỉ hè trên nông trường trong khu vườn các loại cây trái, gà chó, cá suối… cùng những nguyên tắc làm ăn căn bản nhưng quan trọng. Chúng đã góp phần làm nên con người tôi, trong cách tôi nhận mình là người Cần Thơ, trong cách tôi tính toán kinh tế và công việc, cũng như trong mơ ước về xây dựng một khu vườn Ê-đen với đủ các loại cây trái nhìn thì đẹp, ăn thì ngon, với sông suối chim thú cá nước… không đời này thì đời sau. Cảm ơn cô dượng, bà nội, bà Mười, cô Tư cô Sáu… đã cho tôi những ký ức tuổi thơ đáng nhớ ở quê, những trải nghiệm mà tôi dù rất muốn cũng chẳng thể trao lại cho con gái mình. 

Nghĩ về cô, tôi nhớ đến những miêu tả về người nữ tài đức trong Kinh Thánh, một người phụ nữ mạnh mẽ, đảm đang, buôn bán, làm việc, quản lý công việc gia đình, và chăm lo cho con cái.

Ai có thể tìm được một người nữ tài đức?
Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc.
Lòng người chồng tin cậy nàng,
Chàng sẽ chẳng thiếu hoa lợi.
Trọn đời nàng làm cho chồng được ích lợi,
Chứ không gây tổn hại.
Nàng lo tìm lông chiên và sợi gai,
Rồi vui vẻ bắt tay vào việc.
Nàng giống như các tàu buôn,
Từ xứ xa chở hàng về.
Nàng thức dậy khi trời còn tối,
Cung cấp thức ăn cho người nhà,
Và giao công việc cho các tớ gái mình.
Nàng để ý đến một cánh đồng và mua nó;
Nhờ hoa lợi của hai tay mình, nàng lập một vườn nho.
Nàng thắt lưng bằng sức lực
Và làm cho hai cánh tay mạnh mẽ.
Nàng thấy công việc mình được ích lợi;
Ban đêm đèn nàng chẳng tắt.
Nàng đặt tay vào con quay,
Và các ngón tay nàng cầm con suốt.

Nàng không sợ người nhà bị lạnh khi tuyết giá,
Vì cả nhà đều mặc áo bằng lông chiên đỏ sậm.
Nàng tự làm những chăn mền;
Áo quần nàng đều bằng vải gai mịn màu tía.
Nơi cổng thành, chồng nàng được nổi tiếng
Khi ngồi chung với các trưởng lão trong xứ.
Nàng may áo quần bằng vải gai đem bán;
Cung cấp đai thắt lưng cho nhà buôn.
Nàng mặc lấy sức lực và oai phong,
Mỉm cười khi nghĩ đến tương lai.
Miệng nàng nói năng khôn ngoan,
Lưỡi nàng khuyên dạy điều nhân ái.
Nàng coi sóc mọi việc trong nhà,
Không bao giờ lười biếng.
Con cái nàng trỗi dậy chúc nàng được phước;
Chồng nàng cũng khen ngợi nàng rằng:
“Có nhiều người nữ làm việc xuất sắc,
Nhưng nàng trổi hơn tất cả.”

(Châm Ngôn 31:10-29)

5. Niềm Hy Vọng Về Sự Phục Sinh Và Sự Sống Phước Hạnh Đời Đời Trong Chúa

Khi đi thăm bà con các cô các bác lớn tuổi, tôi thường cố gắng chia sẻ niềm hy vọng về sự phục sinh và sự sống đời đời trong Chúa Giê-xu. Phản hồi tôi thường nhận được là cô từ nhỏ đã theo Phật rồi, giờ già rồi đâu thể nào thay đổi được? Hay là sẽ suy nghĩ. Tôi cũng ngại nói thêm, vì mỗi năm đi thăm hỏi các cô các bác cũng có 1-2 lần, thật tôi cũng không muốn làm mất vui buổi nói chuyện. Nhưng giờ cô Hai đi rồi, tôi còn có thể gặp các cô các bác được bao nhiêu lần nữa? Chuyện linh hồn, sự sống đời sau, và sự sống đời đời của mình sao lại để cho tập quán thói quen từ nhỏ của mình quyết định? Sao ta không tìm hiểu cách thấu đáo mọi niềm tin, các bằng chứng thực tế, và lựa chọn cách khôn ngoan hiệu quả?

Dòng họ tôi theo đạo Phật, và hồi nhỏ tôi cũng thế. Nhưng khi sang Singapore du học, tôi tò mò tìm hiểu về đạo Chúa vì thấy người Do Thái, Hy Lạp, La Mã, phương Tây tin Chúa và họ đã xây dựng xã hội rất văn minh thành đạt nên cũng muốn biết Chúa dạy gì [3]. Sau một thời gian dài tìm hiểu, qua nghiên cứu Kinh Thánh từ Sáng Thế Ký tới Khải Huyền, tìm hiểu các bằng chứng để tin như lời chứng của người tin Chúa, sự phục sinh và ngôi mộ trống, v.v… tôi đã quyết định tin theo Chúa để được sự dạy dỗ dẫn dắt của Ngài trong đời sống, và sự sống đời đời về sau. Thấy ba mẹ, các cô, các bác ngày một già đi, tôi rất mong mọi người dành thời gian nghỉ hưu rảnh rỗi của mình để tìm hiểu về Chúa Giê-xu, những bằng chứng để tin Chúa để được sự phục sinh và sự sống đời đời trong Ngài [4].

Thật sự tôi tìm hiểu khá nhiều về đạo Phật. Hồi nhỏ ở nhà bà nội, tôi đã tình cờ tìm thấy truyện tranh về cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni, và những câu chuyện cùng những lời dạy của ông đã khắc sâu vào tâm trí non trẻ của tôi khi đó. Mâu Ni nghĩa là nhà thông thái, Thích Ca Mâu Ni tức Nhà Thông Thái Xứ Thích Ca, người dạy Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo là các nguyên tắc tu tập để kiềm chế tham muốn, tránh khổ, diệt khổ… để đạt tới Niết Bàn (tiếng Phạn nghĩa là ngọn lửa đã tắt, chỉ tấm lòng đã tắt hết mọi lửa ham muốn). Phật là người mà “điều cần biết, đã biết, 

Điều cần tu, đã tu, Điều cần trừ, đã trừ, Do vậy, Ta là Phật.” (Trung Bộ Kinh) [5]. Tôi rất tâm đắc con đường “…biết…tu…trừ…” này. Nó là cách tôi tiếp cận và xử lý mọi vấn đề trong cuộc sống, cả việc theo Chúa (học biết Chúa dạy gì, tu tập làm theo lời, và trừ bỏ các tội lỗi). Nhưng tôi thấy rõ ràng đây không phải là con đường để được sự phục sinh và sự sống đời đời. Vì dù có học biết, tu tập, trừ bỏ thế nào thì chết vẫn là chết.

Các hệ niềm tin trong đạo Phật

Mà thật ra phần lớn người Việt Nam theo Phật A Di Đà chứ không phải Phật Thích Ca, niệm “nam mô A Di Đà Phật” (nghĩa là kính lễ Phật A Di Đà) chứ không tu tập Tứ Diệu Đế Bát Chánh Đạo, và mong được vãng sanh Cực Lạc chứ không phải dập tắt lửa lòng.

Theo kinh Vô Lượng Thọ và kinh Bi Hoa, Phật A Di Đà xuất thân ở cõi Tản Đề Lam thế giới (khác với thế giới ta sống là cõi Ta Bà), ở hằng sa số kiếp trước, vốn là Chuyển Luân Thánh Vương thống lãnh cả Đông Tây Nam Bắc, tên là Vô Tránh Niệm, xuất gia thành tỳ kheo Pháp Tạng, đã tu vô lượng kiếp, đạt trí huệ vô lượng quang, và công đức vô lượng thọ. Từ đó, ông tạo ra cõi tịnh độ, còn gọi là cõi Tây Phương Cực Lạc với miêu tả như sau [6]

“…Cõi tịnh độ này có cây báu khắp nước, đạo tràng cây Bồ Đề cao bốn trăm vạn dặm. Giảng đường tinh xá cũng do bảy báu hóa thành, khắp nơi đều giảng kinh, tụng kinh, thọ kinh, quá chiếu tọa thiền. Suối ao công đức thơm tho trong suốt, đáy trải cát vàng, quanh bờ cây trái tươi tốt…Các chúng sinh dung sắc vi diệu, đồng cùng một loại, dung nhan tươi sáng không đâu bì kịp. Cung điện chỗ ở, áo quần ăn uống như cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Các chúng sanh được vãng sinh về Cực Lạc đều được sắc thân vi diệu, hình mạo đoan nghiêm, trí huệ sáng suốt, phước đức vô lượng, thọ dụng đầy đủ, gió nước mưa hoa…” Nhờ đó, chúng sinh không cần phải tu hành đời đời kiếp kiếp để thoát khỏi luân hồi nữa. Họ chỉ cần “siêng niệm danh hiệu Phật A Di Đà, đem tâm thanh tịnh hướng đến đức Phật cho đến mười niệm, nguyện được vãng sanh nước ngài thì khi mạng chung thấy Phật A Di Đà, được sanh về Cực Lạc”.

Phật A Di Đà xuất hiện sau Phật Thích Ca 700-800 năm, với có di tích cổ nhất là bệ khắc tên năm 153 SCN [7]. Tôi thấy Phật A Di Đà có nhiều điểm mô-típ giống với Chúa Giê-xu như:

1. Xuất hiện khá gần nhau: Chúa Giê-xu sinh năm 1 SCN, dấu tích cổ nhất của Phật A Di Đà là bệ chân tượng vào năm 153 SCN [7].

2. Đều có xuất xứ từ xa xưa, từ một thế giới khác, đều là vương thế giới đó: Chúa Giê-xu có từ thưở ban đầu, là Con Trai Đức Chúa Trời, vua thiên đàng; còn Phật A Di Đà có từ hằng sa số kiếp trước, ở cõi Tản Đề Lam, là Chuyển Luân Thánh Vương.

3. Đều được gọi là ánh sáng cho thế gian: Chúa Giê-xu được gọi là ánh sáng cho loài người (Giăng 1:4), còn chữ A Di Đà nghĩa là ánh sáng, Phật A Di Đà là phật ánh sáng.

4. Đều có quyền năng tạo hóa: Chúa Giê-xu tạo dựng thế giới này, còn Phật A Di Đà tạo dựng cõi Tây Phương Cực Lạc. 

5. Đều đem đến sự cứu rỗi trong danh mình, bởi việc làm công đức của mình, đổi việc vào thiên đàng từ nỗ lực cá nhân sang được cứu bởi đức tin: Chúa Giê-xu sự cứu chuộc khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời trong danh Ngài bởi đức tin, còn Phật A Di Đà đem đến sự giải thoát khỏi luân hồi qua việc tin và tụng niệm nam mô A Di Đà Phật.

Vậy nên cả hai có nhiều điểm giống nhau và đều hứa ban sự cứu rỗi trong danh mình. Nhưng để tin hay không lời một người (hay một thần), điều quan trọng không phải họ là ai hay hứa gì, mà đâu là bằng chứng để ta tin là họ có thể thực hiện lời hứa? 

Độ đáng tin cậy của các sách Tân Ước trong Kinh Thánh

Bằng chứng của Chúa Giê-xu là sự phục sinh và ứng nghiệm các lời tiên tri từ hơn 800 năm trước được ghi chép trong Cựu Ước [9]. Đây là một sự kiện lịch sử có bằng chứng vượt mọi nghi ngờ hợp lý: với ngôi mộ trống còn tồn tại đến ngày nay, với số lượng các bản thảo chép tay còn lại nhiều nhất và chính xác nhất, và với rất nhiều người làm chứng là thật dù họ phải chết [10]. Nó là sự kiện siêu nhiên chứng tỏ Chúa Giê-xu đến từ một quyền năng siêu nhiên có thể điều khiển lịch sử và phục sinh con người từ cõi chết.  

Còn tôi không tìm thấy bằng chứng thực tế lịch sử chứng minh sự hiện diện hay quyền năng của Phật A Di Đà và cõi Tây Phương Cực Lạc. Di tích cổ nhất là bệ khắc tên năm 153 SCN [7]. Thật sự người Ấn Độ tạo thần phật rất dễ, như dịch Covid vừa rồi họ tạo nữ thần Cô-rô-na [11]. Vậy nên Ấn Độ có hàng ngàn thần, cứ đặt ra và cúng bái thôi. Sứ đồ Thomas đã đến Ấn Độ chia sẻ về Chúa Giê-xu từ năm 52 SCN [8]. Thật dễ dàng để người Ấn Độ tạo ra thêm 1 vị thần theo mô-típ vua cõi khác tạo dựng thiên đường đem lại sự cứu rỗi trong danh mình giống như vậy. Kể chuyện tạo thần phật và hứa phước dễ, nhưng đâu là bằng chứng thực tế lịch sử để chứng minh thần quyền có thật?

Ai rồi cũng phải chết. Giờ nếu người ta loan báo tin mừng rằng có sự phục sinh và ai cũng có cơ hội thì ta có mong muốn? Hay ta sẽ gạt bỏ vì tin chắc rằng phục sinh là chuyện không thể? Nếu quan tâm thì ta sẽ tìm hiểu như thế nào để biết chắc rằng nó là sự thật? Và nếu quả thật đó là sự thật, thì ta sẵn sàng làm những gì để mình cũng sẽ được phục sinh? Niềm tin Chúa không chỉ đã giúp người Do Thái, người Hy Lạp-La Mã, người phương Tây xây dựng xã hội văn minh thịnh vượng, mà nó còn có bằng chứng thực tế lịch sử vững chắc là sự phục sinh của Chúa Giê-xu [12] [10]. Đây là sự kiện siêu nhiên chứng tỏ Chúa Giê-xu đến từ Đức Chúa Trời, một quyền năng siêu nhiên có thể điều khiển lịch sử và phục sinh con người từ cõi chết. Và Ngài đã hứa sẽ cho những ai tin nhận Chúa Giê-xu được phục sinh và hưởng phước hạnh đời đời với Ngài. 

“Ta là sự sống lại và sự sống. Người nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dù đã chết rồi” (Giăng 11:25). 

Xin Chúa Thánh Linh cho tôi sự khôn ngoan để có thể chia sẻ hy vọng phục sinh này cách thuyết phục đến cho ba mẹ, các cô, các bác. Và xin Chúa mở tâm mở trí mở lòng để mọi người có thể tiếp nhận sự cứu chuộc của Chúa Giê-xu để vui hưởng sự sống đời đời trong Ngài.

Richard Huynh (bachkhoa.name.vn

Đọc Thêm

[1] Những gì bà nội dạy tôi

[2] Nông nghiệp thiên nhiên

[3] Từ Nhà Thông Thái Xứ Thích Ca Đến Đấng Christ
https://bachkhoa.name.vn/2021/04/03/tu-nha-thong-thai-xu-thich-ca-den-dang-christ/ 

[4] Bằng chứng của niềm tin Cơ Đốc
https://bachkhoa.name.vn/bang-chung-cua-niem-tin-co-doc/ 

[5] Trung Bộ Kinh
https://buddhalessons.org/91-chuong-91-kinh-brahmayu-mn-91-brahmayu-song-ngu/ 

[6] Những Điểm Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Phật A Di Đà Và Chúa Giê-xu
https://bachkhoa.name.vn/2024/10/05/nhung-diem-giong-nhau-va-khac-nhau-giua-phat-a-di-da-va-chua-gie-xu/ 

[7] Wikipedia Phật A Di Đà Amitābha
https://en.wikipedia.org/wiki/Amit%C4%81bha 

[8] Thánh Thomas (sứ đồ Thomas) ở Ấn Độ
https://time.com/archive/6620039/religion-st-thomas-in-india/ 

[9] Em-Ma-Nu-Ên, Phúc Âm Theo Lời Tiên Tri Của Ê-Sai 800 Năm Trước Chúa Giê-Xu
https://bachkhoa.name.vn/2021/02/20/em-ma-nu-en-phuc-am-theo-loi-tien-tri-cua-e-sai-800-nam-truoc-chua-gie-xu/ 

[10] Bằng Chứng Vượt Mọi Nghi Ngờ Hợp Lý Của Niềm Tin Cơ Đốc: Sự Phục Sinh Của Chúa Giê-xu
https://bachkhoa.name.vn/2025/03/13/bang-chung-vuot-moi-nghi-ngo-hop-ly-cua-niem-tin-co-doc-su-phuc-sinh-cua-chua-gie-xu/ 

[11] Vì sao người Ấn Độ thờ ‘nữ thần Corona’ giữa đại dịch?
https://vietnamnet.vn/vi-sao-nguoi-an-do-tho-nu-than-corona-giua-dai-dich-741454.html 

[12] Ta Sẽ Làm Gì Khi Nghe Tin Có Sự Phục Sinh Và Mình Cũng Có Cơ Hội?
https://bachkhoa.name.vn/2026/03/08/ta-se-lam-gi-khi-nghe-tin-co-su-phuc-sinh-va-minh-cung-co-co-hoi/