Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử Khiến Tôi Tin Về Cái Chết Của Caesar Và Sự Phục Sinh Của Chúa Giê-xu

Khác với các tôn giáo khác, niềm tin Cơ Đốc được đặt trên bằng chứng là một sự kiện lịch sử có thể kiểm chứng đúng sai: sự phục sinh của Chúa Giê-xu. Nó là một phép lạ siêu nhiên chứng tỏ những lời Chúa Giê-xu nói được chứng nhận bởi Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất có quyền năng phục sinh. Nó có nghĩa là Chúa thực sự ban giao ước mới trong huyết Chúa Giê-xu, và sẽ có sự phục sinh từ cõi chết, sự tha tội, và sự sống đời đời cho những ai tin theo Ngài.
Nhưng người vô thần không tin vào sự phục sinh vì họ nghĩ nó trái với khoa học. Họ làm vậy là không hiểu giới hạn của phương pháp nghiên cứu khoa học. Nó chỉ có thể nghiên cứu kiểm chứng những quy luật thiên nhiên lập đi lập lại, như luật trọng trường là thả đồ vật nó sẽ rơi xuống. Mà hiển nhiên sự phục sinh không phải là một quy luật lập lại của thiên nhiên.
Vậy làm sao ta có thể kiểm chứng đúng sai rằng sự phục sinh có thật đã xảy ra? Nó là một sự kiện lịch sử, như sự kiện Caesar bị ám sát, hay Washington vượt sông Delaware, hay quân Đồng Minh vượt eo biển Măng-sơ. Làm sao ta có thể tin những sự kiện này đã thật sự xảy ra trong lịch sử? Và làm sao ta có thể đánh giá độ đáng tin cậy của chúng?
Sau đây là những phương pháp mà các sử gia áp dụng để tìm ra những sự thật trong quá khứ và đánh giá độ tin cậy của chúng. Những phương pháp nghiên cứu lịch sử này cho ta thấy sự phục sinh của Chúa Giê-xu thật sự là một sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, đáng tin cậy gấp nhiều lần chuyện Julius Caesar bị ám sát hay bất kỳ sự kiện lịch sử cổ đại nào.
__________
Vào ngày 15 tháng 3 năm 44 trước Công Nguyên (TCN) – trong lễ Giữa Tháng Ba (Ides of March), vài chục thượng nghị sĩ La Mã đã ám sát Julius Caesar. Gần 77 năm sau, khoảng Chúa Nhật ngày 5 tháng 4 năm 33 sau Công Nguyên (SCN), Chúa Giê-xu đã sống dậy từ cõi chết.
Ta có thể kiểm chứng điều mình tin về cả 2 sự kiện bằng cách áp dụng 4 phương pháp mà các sử gia dùng để tìm ra những sự thật trong quá khứ:
1. Phân Biệt Giữa Phương Pháp Khoa Học Và Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử
Phương pháp nghiên cứu khoa học là ghi chép lại các quan sát, lập ra các giả thuyết, đặt ra các suy đoán, thực hành các thí nghiệm lập đi lập lại, và phân tích các kết quả. Nhưng có vô số sự việc hiện tượng không lập lại thì không thể xác thực bằng phương pháp khoa học.
Ví dụ như chẳng có bằng chứng khoa học nào chứng minh Julius Caesar đã vượt sông Rubicon vào tháng 1 năm 49 TCN, hay George Washington đã vượt sông Delaware vào ngày 25 tháng 12 năm 1776, hay quân Đồng Minh vượt eo biển Măng-sơ vào ngày 6 tháng 6 năm 1944. Nhưng những người hợp lý vẫn tin những sự kiện này thật sự đã xảy ra vì chúng được xác thực bởi phương pháp nghiên cứu lịch sử.
Sử gia Louis Gottschalk định nghĩa phương pháp nghiên cứu lịch sử là “dò xét và phân tích với tư duy phản biện những ghi chép và bằng chứng còn sót lại về quá khứ.” Các sử gia tận tâm gạt bỏ những thiên vị cá nhân của mình mà xem xét các cổ vật, thu thập những dữ liệu, theo đuổi các bằng chứng… Rồi qua suy luận tổng hợp, họ trình bày một diễn giải phù hợp nhất với tất cả những thông tin thu thập được.
Cốt lõi của niềm tin Cơ Đốc là tuyên bố lịch sử về sự phục sinh của Chúa Giê-xu. Bác bỏ tuyên bố này dựa vào danh nghĩa khoa học là không biết những giới hạn của khoa học (là không xem xét được những sự kiện không thể lập lại). Phao-lô thừa nhận rằng “nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích” (1 Cô-rinh-tô 15:14). Khác với các tôn giáo khác, khẳng định cốt lõi này của Cơ Đốc Giáo vừa có thể kiểm chứng vừa có thể chứng minh đúng sai bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử.
2. Xem Xét Khoảng Thời Gian Từ Lúc Sự Kiện Xảy Ra Đến Bản Gốc Kể Về Nó, Và Từ Bản Gốc Đến Những Bản Hiện Còn
Đầu tiên, ta xem xét khoảng cách giữa sự kiện lịch sử và bản thảo gốc kể về nó. Khoảng cách này càng ngắn thì tác giả bản ghi chép càng gần với thực tế sự kiện. Làm sao ta biết Caesar bị ám sát vào năm 44 TCN? Ta không có mặt ở đó để chứng kiến sự việc, nhưng ta tin nó bằng cùng lý do mà ta tin hầu hết các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ: những người chứng kiến viết lại lời chứng của mình, hay kể lại cho người nào đó viết.
Nhiều người tin chuyện Caesar bị ám sát đơn giản là vì ở trường cấp 3 họ đọc vở kịch Julius Caesar nổi tiếng của Shakespeare. Nguồn thông tin của Shakespeare là bản dịch tiếng Anh năm 1579 của Thomas North quyển “Những Cuộc Đời Song Song” của Plutarch. Nhưng Plutarch viết quyển Những Cuộc Đời vào thế kỷ thứ 2 SCN, khoảng 160 năm sau sự kiện ám sát, nên ông không thể là người chứng kiến. Vậy ai là nguồn thông tin của Plutarch?
Plutarch dùng quyển “Những Cuộc Chiến Ở Gaul (Pháp)” của Caesar làm nguồn thông tin cho một số tư liệu của mình. Caesar hẳn là người chứng kiến việc mình bị ám sát, nhưng chắc ông không thể viết được nhiều về nó. Cicero có lẽ là một người chứng kiến, nhưng ông chết khoảng một năm sau mà không viết lại chi tiết gì về cái ngày định mệnh ấy. Plutarch không tiếp cận được người nào chứng kiến sự kiện đó mà còn sống. Nhưng với tư cách thành viên nổi bật trong xã hội La Mã, ông có lẽ đã được tiếp cận những tài liệu hay các truyền thống truyền miệng đã thất truyền với chúng ta. Vậy nên khoảng cách giữa sự kiện Caesar bị ám sát đến bản gốc kể lại của Plutarch là khoảng 160 năm.
Để so sánh, bộ Tân Ước được viết bởi những người chứng kiến sự phục sinh của Chúa Giê-xu và người thân cận của họ. Trong khi Plutarch viết 160 năm sau cái chết của Caesar, các tác giả sách Tân Ước viết trong thời những người chứng kiến vẫn còn sống. Những người này có thể xác nhận hay phủ nhận 2 khẳng định trọng tâm của niềm tin Cơ Đốc: ngôi mộ trống và sự hiện ra của đấng Christ đã sống lại.
Từ sớm nhất khoảng năm 50, Phao-lô đã chép lại rằng Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết (Ga-la-ti 1:1). Nếu Chúa Giê-xu chết vào năm 33, khoảng cách giữa sự kiện Chúa Giê-xu phục sinh tới bản gốc sớm nhất ghi chép về nó là chưa tới 20 năm.
Chúng ta không có bản thảo gốc của Plutarch hay bất cứ tác giả Tân Ước nào. Đây là điều bình thường với lịch sử cổ đại. Đó là lý do tại sao khoảng thời gian thứ hai là rất quan trọng.
Khoảng thời gian thứ hai là khoảng thời gian giữa bản thảo gốc tới các bản sao hiện có ngày nay. Phương pháp nghiên cứu lịch sử áp dụng kỹ thuật phê bình văn bản (textual criticism) để tái tạo bản gốc từ các bản sao hiện có. Khoảng thời gian này càng ngắn càng tốt.
Khoảng thời gian giữa bản gốc của Plutarch và bản sao sớm nhất hiện còn của quyển Những Cuộc Đời là hơn 800 năm. Trong khi đó, khoảng thời gian giữa bản gốc các quyển Phúc Âm Giăng và các phần bản sao hiện còn là chỉ 50 năm.
Học giả Tân Ước Darrell Bock kết luận các sách Phúc Âm là nguồn tư liệu về Chúa Giê-xu tốt hơn hẳn so với các sách cổ đại khác về Caesar. Nếu nguồn tư liệu là đáng tin cậy với các sách cổ đại và nghiên cứu về Caesar, nó cũng đáng tin cậy về Chúa Giê-xu như vậy.
3. So Sánh Số Bản Thảo Làm Chứng
Thông thường, giống như với những người làm chứng đáng tin cậy trước tòa, có càng nhiều bản thảo (làm chứng) càng tốt. Ngay cả những người làm chứng thành thật nhất cũng bỏ qua những chi tiết họ không thấy, hay thêm vào những chi tiết họ nghĩ là họ thấy. Khi tất cả những lời chứng được xem xét cách tổng thể, sẽ có những khác biệt nhỏ về những chi tiết bên lề, nhưng cái chính về những gì đã xảy ra sẽ rõ ràng.
Khi so sánh số bản thảo (còn lại) của các sách Tân Ước với các sách cổ đại khác, sự vượt trội của sách Tân Ước về bằng chứng lịch sử là rõ ràng. Chúng ta còn lại chưa tới 10 bản thảo của các phần khác nhau trong quyển Những Cuộc Đời của Plutarch, so với 23,986 bản của các phần khác nhau của bộ Tân Ước. Điều này thật đáng kinh ngạc.
Học giả Tân Ước Dan Wallace ước tính rằng nếu ta chồng tất cả những bản thảo Tân Ước hiện còn sẽ cao hơn 4 lần tòa nhà Empire State ở Mỹ (khoảng 1600m). Ngược lại, chồng tất cả những bản hiện còn của tất cả các tác phẩm Hy Lạp cổ điển sẽ chỉ cao khoảng 1.2m.
4. Cân Nhắc Động Cơ Của Lời Chứng
Ngay cả khi ta có được hình dung đáng tin cậy về bản thảo gốc, làm sao ta biết được tác giả đang kể lại sự thật hay đang bịa đặt chuyện dối?
Thường có hai động cơ để nói dối: để được ích lợi, hay để tránh đau đớn. Đến thời của Plutarch, chuyện kể việc Julius Caesar bị ám sát đã được chấp nhận rộng rãi. Plutarch không viết cái gì gây tranh cãi hay nguy hiểm về mặt chính trị có thể gây tổn thương tới danh tiếng và địa vị xã hội của mình. Tác phẩm chỉ nâng cao vị thế của ông trong giới tinh hoa. Ông mất rất ít mà được lại rất nhiều khi viết những câu chuyện lịch sử của mình, đạt được điều tương đương với một hợp đồng xuất bản sách thời cổ đại.
Về sự phục sinh, những môn đồ đầu tiên của Chúa Giê-xu hoặc đang nói sự thật, hoặc không. Nhưng tại sao họ lại nói dối? Những tuyên bố táo bạo của họ gây tranh cãi và nguy hiểm về mặt chính trị. Vì lời chứng của mình (Công Vụ 1:22), họ bị mất địa vị xã hội, mất tài sản, mất tự do, và với một số người, mất cả tính mạng.
Các sử gia xem những đau khổ phải chịu đó là bằng chứng cho sự đáng tin cậy của một văn bản. Như Gottschalk lưu ý: “Khi một lời chứng gây tổn hại cho người làm chứng, cho người thân, hay cho các mục tiêu của họ, thì khả năng cao nó là thành thật.” Bằng việc khẳng định đã thấy Chúa Giê-xu Christ phục sinh, những môn đồ đã gây tổn hại rất lớn cho chính mình, cho gia đình, và cho bạn bè người thân mình. Giải thích tốt nhất cho lời chứng nhất quán và vững chắc của họ là họ đang nói sự thật.
Tất nhiên, nhiều người cuồng tín sẵn sàng chết cho niềm tin của mình. Nhưng dù nhiều người sẵn sàng chết cho điều họ nghĩ là đúng, chẳng ai chết cho điều họ biết là giả dối. Các môn đồ không làm chứng cho sự phục sinh vì nó đem lại ích lợi cho mình. Họ làm chứng cho sự phục sinh của Chúa Giê-xu vì nó là sự thật.
Thời nay, ngày Giữa Tháng Ba chắc chỉ được tưởng nhớ bởi một ít người đam mê lịch sử, nhưng chẳng ai nghỉ lễ vì nó. Nhưng vào lễ Phục Sinh, hàng tỷ người ở khắp thế giới sẽ kỷ niệm sự phục sinh của Chúa Giê-xu Christ. Julius Caesar đã cho thế giới lịch Julian (mà ta hiện dùng). Phải có chuyện gì đó đã xảy ra ở thế kỷ thứ nhất đã khiến ta đếm số năm của mình từ năm sinh của một con trai thợ mộc. Nó chẳng phải vì những gì Chúa dạy, do các giáo sư đến rồi đi. Nó chẳng phải vì cái chết của Chúa, do vô số kẻ thù của La Mã bị đóng đinh trên thập tự.
Vào ngày này 2068 năm trước, Julius Caesar chết ở Rome và thế giới chấp nhận nó như một chú thích lịch sử. Chỉ 77 năm sau, Chúa Giê-xu Christ đã phục sinh từ cõi chết tại Giê-ru-sa-lem, và thế giới không bao giờ như trước nữa.
Người dịch: Richard Huynh
Theo www.thegospelcoalition.org
https://www.thegospelcoalition.org/article/resurrection-jesus-christ/
Đọc Thêm
1. Sẽ Thế Nào Nếu Chúa Giê-xu Đã Chẳng Phục Sinh?
https://bachkhoa.name.vn/2024/02/09/se-the-nao-neu-chua-gie-xu-da-chang-phuc-sinh/
2. 7 điều chứng tỏ sự phục sinh của Chúa Giê-xu là sự thật
https://bachkhoa.name.vn/2021/04/04/7-dieu-chung-to-su-phuc-sinh-cua-chua-gie-xu-la-su-that/
3. Thám Tử Vô Thần Cố Gắng Bác Bỏ Sự Phục Sinh Của Chúa Giê-xu Nhưng Lại Bị Thuyết Phục Và Đi Đến Quyết Định Cải Đạo
https://bachkhoa.name.vn/2022/04/16/tham-tu-vo-than-co-gang-bac-bo-su-phuc-sinh-cua-chua-gie-xu-nhung-lai-bi-thuyet-phuc-va-di-den-quyet-dinh-cai-dao/
Và các bài thuộc chủ đề phục sinh trong blog bachkhoa.name.vn
https://bachkhoa.name.vn/tag/phucsinh/
