Chuyên gia về enzyme vạch rõ những sai lầm của thuyết tiến hóa
“Tôi không hổ thẹn về Phúc Âm – nó cho tôi câu trả lời cho những câu hỏi lớn mà không hệ thống niềm tin nào đem lại: nguồn gốc của vũ trụ và sự sống là gì? Nền tảng của sự độc đáo duy nhất của con người và đạo đức là gì? Và cái gì là cơ sở vững chắc cho sự bình đẳng về giá trị của tất cả mọi người và giá trị của một cá nhân? Con người hiện đại bị rối loạn bởi vì anh ta không có câu trả lời hợp lý cho những câu hỏi đó.” – Tiến sĩ Matti Leisola

Tiến sĩ Leisola vạch ra những sai lầm của thuyết tiến hóa, và giải thích vì sao nó chỉ là một câu chuyện kể. Ông so sánh khoa học thực sự VS thuyết tiến hóa, và sự quan trọng của Thuyết Sáng Tạo cùng niềm tin Cơ Đốc trong đời sống xã hội.
******
Tiến sĩ Matti Leisola đã nhận bằng Tiến Sĩ Khoa Học về công nghệ sinh học (biotechnology) từ Đại Học Kỹ Thuật Helsinki (thủ đô Phần Lan) năm 1979. Sự nghiệp của ông gồm có giải Latsis cho nhà nghiên cứu trẻ đặc biệt năm 1987 ở Thụy Sĩ, Trưởng Phòng Nghiên Cứu (1988-1997) trong một công ty công nghệ sinh học quốc tế, và gần đây nhất là Trưởng Khoa Khoa Học Hóa Chất và Vật Liệu ở đại học Aalto Phần Lan mới mở, nơi ông giữ chức Giáo Sư Danh Dự về Kỹ Thuật Xử Lý Sinh Học từ năm 2012.

Tiến sĩ Matti Leisola và vợ
Ông đã xuất bản hơn 140 báo cáo khoa học, chủ yếu về nghiên cứu enzyme, tác giả hơn 20 bài trong các sách và hội nghị, và có 7 bằng sáng chế. Các báo cáo khoa học của tiến sĩ Leisola được trích hơn 5000 lần trong cộng đồng khoa học. Ông hiện là phó chủ tịch Hiệp Hội Quốc Tế về Đường Hiếm, và trưởng ban biên tập của tạp chí mở Sự Phức Tạp Trong Sinh Học (Bio-Complexity).
Giới thiệu về enzyme
Nhiều độc giả nhớ đến tiến sĩ Matti Leisola từ bộ phim tài liệu về Darwin của CMI, Chuyến Hành Trình Làm Rung Chuyển Thế Giới (2009). Nhưng ông được biết đến nhiều hơn trong cộng đồng khoa học là một chuyên gia trong lĩnh vực enzyme của mình. Tiến sĩ Leisola giải thích:
“Tôi thích gọi enzyme là ‘những máy móc của sự sống’. Chúng là những loại protein – các phân tử rất lớn được tạo ra bằng cách sắp xếp các amino acid một cách cụ thể. Chúng là chất xúc tác của sự sống – nghĩa là chúng đẩy nhanh những phản ứng hóa học trong các tế bào sống. Enzyme nhận ra, biến đổi, vận chuyển, oxy hóa, giảm bớt, kết nối các phân tử lại với nhau hay tách chúng ra.”
Bảng chỉ dẫn cách để lắp ráp chúng được mã hóa trong DNA của chúng ta. Tiến sĩ Leisola giải thích rằng cũng như tiếng Phần Lan có 29 chữ cái,1 nên ngôn ngữ enzyme cũng có 20 chữ cái hóa sinh (là các amino acid), mỗi chữ cái được mã hóa bằng 3 từ trong ngôn ngữ DNA (thứ có 4 chữ cái khác nhau). Ví dụ, ‘Matti Leisola’ là một kết hợp (có thứ tự) gồm 12 chữ cái và 1 khoảng trắng. “Kết hợp này quá cụ thể đến nỗi nó giúp bất kỳ ai tìm thấy tôi giữa tất cả mọi người trên thế giới vì chẳng ai mà tôi biết có cùng một kết hợp như vậy. Một enzyme bất kỳ chứa hơn 300 chữ cái hóa sinh. Nó khiến mỗi enzyme rất chuyên môn hóa cho một nhiệm vụ cụ thể.”
Ví dụ, nhóm của Matti nghiên cứu một loại enzyme gọi là xylanase (xem hình trên). Nó bẻ gãy một trong những polymer carbohydrate có nhiều nhất trên trái đất gọi là xylan, tìm thấy ở màng tế bào thực vật. Sợi này làm thành khoảng 30% vỏ cây. Enzyme xylanase chứa khoảng 200 amino acids. Mã protein của nó là một chuỗi có nghĩa là “phá hủy xylan”. Động vật có vú không có enzyme này, nên chúng không tiêu hóa được xylan (trong cành và lá của cây). Dùng các chữ cái khác nhau cho mỗi amino acid khác nhau, chuỗi protein có thể được viết như sau:
ASINYDQNYQTGGQVSYSPSNTGFSVNWNTQDDFVVGVGWTGSSAPINFGGSFSVNSGTGLLSVYGWSTNPLVEYYIMEDNHNYPAQGTVKGTVTSDGATYTIWENTRVNEPSIQGTATFNQYISVRNSPRTSGTVTVQNHFNAWASLGLHLGQMNYQVVAVEGWGGSGSASQSVSN

Một mô hình của enzyme xylanase, một cỗ máy phức tạp tạo thành bởi một chuỗi chính xác các amino acid.
Như với tất cả các enzyme, chuỗi này cho phép cỗ máy phân tử này thực hiện công việc của mình. Chẳng có gì trong thành phần hóa học hay vật lý của amino acid làm thành xylanase giúp chúng được sắp xếp đúng cách. Thứ tự sắp xếp này – thông tin này – được áp đặt lên vật chất bằng thứ tự mà amino acid được lắp ráp, dưới những chỉ dẫn được lập trình trong tế bào.
Bác Bỏ Thuyết Tiến Hóa
Chúng tôi phỏng vấn tiến sĩ Leisola vì ông được biết là một người nghi ngờ thuyết tiến hóa từ phân tử lên con người, điều ông gọi là “một câu chuyện kể”. Nhưng ông không phải là người nghi ngờ thuyết tiến hóa ngay từ đầu, như ông giải thích:
“Tôi tin vào câu chuyện chuẩn (của thuyết tiến hóa) cho đến khi tôi khoảng 22 tuổi. Tôi dùng nó (như tôi nghĩ lúc đó) là một vũ khí mạnh mẽ nghịch lại Đức Chúa Trời của người Cơ Đốc. Tôi không nhận ra mình là một sản phẩm của nền giáo dục duy tự nhiên phương Tây, và tôi hẳn muốn được tự do tự tai, và thật sự ghét ý nghĩ Chúa can dự vào đời sống mình.”
Nhưng ông đã thay đổi, nhờ vào bạn gái mình là Marja – giờ là vợ ông:
“Cô ấy trở thành một Cơ Đốc nhân và tôi đột nhiên đối diện với thực tế về đời sống đổi thay và những giá trị sống mới của cô ấy. Điều này khiến tôi nghiên cứu những bằng chứng của đức tin Cơ Đốc. Cuộc tìm kiếm này dẫn tôi đến Đấng Christ. Rồi tôi muốn hiểu chủ nghĩa Darwin là một vũ khí tốt như thế nào để chống nghịch đức tin Cơ Đốc, và chẳng mất nhiều công sức để nhận thấy rằng nó đứng trên một nền tảng rất yếu. Lần đầu tiên tôi nhận ra việc này là khi học hóa sinh và những cố gắng yếu ớt để giải thích nguồn gốc sự sống dựa trên những thí nghiệm thô sơ. Vây nên tất cả đều bắt đầu thay đổi trong hệ niềm tin của tôi. Mọi người đều có một hệ thống niềm tin của mình và dùng hệ thống niềm tin này để diễn giải những thông tin về bằng chứng; nó không thực sư chỉ là bằng chứng (mà chủ yếu là sự diễn giải)”
Lĩnh vực nghiên cứu về các enzyme của ông biện luận mạnh mẽ chống nghịch lại sự tiến hóa và ủng hộ cho một Đấng Sáng Tạo. Ông lập luận rằng, ngược lại với cái người ta hay tin, không có giải thích thuần tự nhiên hợp lý nào cho nguồn gốc của những phân tử hoạt động (như những cỗ máy) giàu thông tin (thiết kế) như vậy, hay việc biến đổi từ loại này sang loại khác. “Thật sự rất khó để có được chuỗi ký tự ‘Matti Leisola’ qua một quá trình ngẫu nhiên. Nó còn khó hơn rất nhiều để tạo ra chuỗi ký tự hóa sinh miêu tả enzyme ‘xylanase’.” Hơn nữa, ngay cả một sinh vật sống đơn giản nhất cũng cần hơn 350 enzyme hoạt động2 cũng phức tạp như xylanase vậy. Với các thuyết về nguồn gốc sự sống, sự lựa chọn tự nhiên không thể giải thích được nguồn gốc của các enzyme cho sự sống, bởi vì sự lựa chọn tự nhiên đòi hỏi phải có những thực thể có khả năng tự sinh sản nên nó không thể dùng để giải thích nguồn gốc của enzyme.3
Mattis cũng chỉ ra “có hàng ngàn những chức năng tương hỗ vá được điều tiết cẩn thận trong thế giới sự sống. Điều này đúng ở nhiều cấp độ: bên trong một tế bào, một sinh vật đa bào, các quan hệ cộng sinh, hệ thống thông tin và liên lạc của một đàn (v.d. ong hay kiến), và sự cân bằng trong hệ sinh thái. Và tất cả những điều đáng nể này được mã hóa chỉ bằng 4 chữ trong DNA. Việc thiết kế bắt đầu bằng quá trình suy nghĩ, và một Trí Tuệ mà có thể cùng lúc thiết kế và vận hành hệ thống thế giới rộng lớn, cực kỳ phức tạp và trọn vẹn này, từ những chi tiết nhỏ nhất đến tổng thể kỳ vĩ, là hoàn toàn ngoài khả năng hiểu biết hạn hẹp này của ta. Chúng ta cần hạ mình quì phục trước Đấng vĩ đại như vậy và thừa nhận mình rằng chúng ta thật sự chẳng là gì. Thi Thiên 92:5 khi miêu tả về thế giới tạo vật nói về Đức Chúa Trời, “Lạy Đức Giê-hô-va, công việc Ngài vĩ đại biết bao! Tư tưởng Ngài rất sâu sắc!” (Thi Thiên 92:5), và bài thi thiên nói tiếp “Người u mê không biết được, Kẻ ngu dại cũng chẳng hiểu thấu.” (Thi Thiên 92:6)“
Khoa Học Thực Sự VS Thuyết Tiến Hóa
Khi Matti lần đầu có sự nghi ngờ thuyết tiến hóa, ông chỉ vừa bắt đầu sự nghiệp khoa học của mình. Ông hỏi các giáo sư về cách sự tiến hóa có thể tạo ra những cái mới trong sinh học: “Họ tất nhiên có những câu chuyện, nhưng đến khi nói đến cơ chế của việc tiến hóa (là điều mà khoa học thực sự tìm hiểu) thì họ không có lời giải thích thật sự nào. Sau đó tôi bắt đầu trình bày những bằng chứng về những giới hạn của thay đổi ngẫu nhiên trong các hội nghị khoa học ở lĩnh vực mình và cho đến giờ chẳng ai phản đối.”
Với hơn trăm bài báo khoa học được xuất bản và trích dẫn rộng rãi, tiến sĩ Leisola thấy buồn cười với lời khẳng định “Chưa có nhà khoa học thật sự nào chối bỏ thuyết tiến hóa.” Họ đã định nghĩa lại khoa học thành chủ nghĩa tự nhiên (người dich: tức tin rằng chỉ duy có thế giới tự nhiên, tự nó tạo ra chính nó và làm mọi việc), và Matti chỉ ra: “Một nhà khoa học đích thực là người tìm kiếm các lẽ thật về thế giới tự nhiên chứ không phải những lý giải theo chủ nghĩa tự nhiên.”
Nhưng liệu niềm tin vào sự sáng tạo làm hại khoa học? Ngược lại, tiến sĩ Leisola nói:
“Niềm tin Cơ Đốc là nền tảng của khoa học hiện đại và nó giải thích tại sao chúng ta có thể nghiên cứu khoa học: một Đức Chúa Trời có lý trí tạo ra con người có lý trí trong hình ảnh của mình để loài người có thể hiểu thiên nhiên tạo hóa bằng trí óc mình. Thật sự, Chúa Tạo Hóa Giê-xu Christ được gọi là Ngôi Lời (Logos, Giăng 1:1-3), và điều này giải thích vũ trụ vô cùng trật tự cùng sự sống vô cùng phức tạp này. Những người tin vào lời giải thích của chủ nghĩa tự nhiên về nguồn gốc sự sống mới là những người có đức tin mù quáng.”
Sự tiến hóa từ vi khuẩn lên nhà sinh học không có ý nghĩa gì cho công tác khoa học thật sự, nhưng nhiều người nói việc bắt chước tiến hóa, như việc biến đổi ngẫu nhiên và chọn lựa nhân tạo, đã giúp nhiều enzyme mới được tạo ra.4 Nhưng tiến sĩ Leisola thật sự là chuyên gia trong lĩnh vực này,5 và ông chỉ ra:
“Những phương pháp đó – ngay cả khi dưới sự kiểm soát chặt chẽ – không tạo ra cái gì mới mà chỉ là những thích nghi hay biến đổi nhỏ trên một nền chung. Ví dụ, nhóm nghiên cứu của tôi đã tạo ra những enzyme để hoạt động tốt hơn trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, và những vi sinh tạo ra những phân tử mới. Nhưng các thành tựu này có những enzyme được thiết kế tốt để khởi đầu, được kiểm soát cách khôn ngoan, và luôn có một giới hạn cho mức độ thay đổi. Chẳng lạ gì khi các tế bào sống ra sức chống lại các thay đổi ngẫu nhiên vì nó luôn là đi xuống (đến chết chóc hư nát)”
Tại Sao Thuyết Sáng Tạo Lại Cần Thiết?
Tiến sĩ Leisola đã dịch một số sách về Thuyết Sáng Tạo sang tiếng Phần Lan cung như bản phụ đề của bộ phim về Darwin của chúng tôi; và ông cũng sắp xếp những chuyến thăm Phần Lan của nhiều nhà khoa học theo Thuyết Sáng Tạo, như A.E. Wilder-Smith người có 3 bằng tiến sĩ (1915-1995). Tại sao điều này thật rất quan trọng?
“Một trong những câu hỏi lớn mà tất cả mọi người đều phải đối mặt là “Chúng ta từ đâu đến?” Sứ đồ Phao-lô viết trong Rô-ma 1 rằng những đặc tính vô hình của Đức Chúa Trời được thấy rất rõ ràng trong những công việc của Ngài, nên chẳng ai có cớ để từ chối Ngài hiện diện. Vậy nên Thuyết Sáng Tạo là nền tảng để hiểu vị trí và vai trò của loài người chúng ta trong vũ trụ.”
Nó cũng là rất quan trọng để hiểu cái gì là phải và là trái. Tiến sĩ Leisola hoạt động trong lĩnh vực đạo đức trong công nghệ sinh học.6 Ông đồng ý với triết gia Michael Ruse, người theo thuyết tiến hóa bất khả tri (tức cho rằng ta không thể biết chắc chắn được gì, nhưng tin theo tiến hóa), rằng nếu tiến hóa là thật, thì đạo đức chỉ là một ảo ảnh:
“Không có những thứ tuyệt đối thì không thể có bất kỳ chuẩn đạo đức nào. Điều này có thể thấy rõ ràng trong những diễn tiến gần đây của văn hóa phương Tây. Khi sự đồng lòng theo Cơ Đốc giáo mất đi, xã hội mất khả năng áp đặt luật lệ lên con người. Càng ngày càng nhiều người chỉ muốn làm cái họ muốn, và càng ngày càng ít người hỏi điều gì là đúng và điều gì là sai.”
Thay vào đó, Matti nói, theo lời sứ đồ Phao-lô: “Tôi không hổ thẹn về Phúc Âm – nó cho tôi câu trả lời cho những câu hỏi lớn mà không hệ thống niềm tin nào đem lại: nguồn gốc của vũ trụ và sự sống là gì? Nền tảng của sự độc đáo duy nhất của con người và đạo đức là gì? Và cái gì là cơ sở vững chắc cho sự bình đẳng về giá trị của tất cả mọi người và giá trị của một cá nhân? Con người hiện đại bị rối loạn bởi vì anh ta không có câu trả lời hợp lý cho những câu hỏi đó.”
Cuối cùng, tôi hỏi tiến sĩ Leisola có lời khuyên gì cho Cơ Đốc nhân trẻ muốn làm khoa học:
“Những lời khuyên tốt nhất đến từ Kinh Thánh: “Luôn sẵn sàng để trả lời những kẻ chất vấn về niềm hi vọng trong anh em, nhưng phải ôn tồn và trân trọng. ” (1 Phi-e-rơ 3:15), “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hi Lạp.” (Rô-ma 1:16) “Nầy, Ta sai các con đi như chiên giữa bầy muông sói. Vậy hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu.” (Ma-thi-ơ 10:16). Đừng lo lắng khi thế gian ghét bạn – đó là một dấu hiệu tốt, miễn sao nó xảy ra vậy là bởi vì Chúa Giê-xu (Giăng 15:18-20)
Người dịch: Richard Huynh
Theo creation.com
https://creation.com/matti-leisola-interview
References and notes
- The Finnish alphabet is like English, except it also contains Å, Ä, Ö as separate letters. Each letter is pronounced, so that the double-t in “Matti” is pronounced something like in “hot-tip”, and the double k in names like “Erkki” and “Pekka” is pronounced like the middle of “book-case”. The language itself is not Indo-European but Uralic, as are Estonian and Hungarian, so is very different from most other European languages, and likely from a different Babel family.
- Research led by Hamilton Smith at the J. Craig Venter Institute in Rockville reveals that the minimum genome consists of 387 protein-coding and 43 RNA-coding genes (Nature 439, 246–247 (19 January 2006) | doi:10.1038/439246a; Proc. Natl Acad. Sci. USA 103:425–430, 2006).
- E.g. researcher Richard Wolfenden exhibited this blind spot: “Without catalysts, there would be no life at all, from microbes to humans. It makes you wonder how natural selection operated in such a way as to produce a protein that got off the ground as a primitive catalyst for such an extraordinarily slow reaction.” Cited in Lang, L.H., Without enzyme catalyst, slowest known biological reaction takes 1 trillion years, UNC School of Medicine, unc.edu, 5 May 2003. See also Natural selection cannot explain the origin of life.
- For a related claim, see Batten, D., Genetic algorithms and robotic folly, J. Creation 14(3):13–15, 2000.
- Leisola, M. and Turunen, O., Protein engineering: opportunities and challenges, Appl. Microbiol. Biotechnol. 75(6):225–232, 2007 | DOI 10.1007/s00253-007-0964-2.
- Leisola M., Bioscience, Bioinnovations, and Bioethics. Adv Biochem Eng / Biotech 107: 41–56, 2007 http://dx.doi.org/10.1007/ 10_2007_052. Ojala, P.J., Vähäkangas, J.M., Leisola M., Evolutionism in the Haeckelian shadow—Harry Federley, the father of the Finnish genetics and eugenics legislation, as a recapitulationist and a Monist propagator, Yearbook for European Culture of Science 1:61–86, Stuttgart, Germany, 2005. Ojala, P.J. and Leisola M., Haeckel: legacy of fraud to popularise evolution, J. Creation 21(3):102–110, 2007.
