Robert Boyle, Nhà Quý Tộc Cơ Đốc, Người Khai Sinh Hóa Học Hiện Đại

“…Hai quyển sách vĩ đại, quyển sách thiên nhiên và quyển Kinh Thánh, có cùng một tác giả, vậy nên quyển sau không cản trở chút nào niềm vui của một người tò mò trong việc tìm hiểu quyển trước.”Robert Boyle 1627-1691

Robert Boyle (1627-169) và Christopher Wren (1632-1723) trong độ tuổi 30 của mình được những người Anh đồng thời gọi là “những kỳ quan của thời đại.” Boyle được nhắc đến trong thi ca của James Thomson và William Cowper. Mặc dù được gọi là cha đẻ của hóa học, ông thật ra là một người nghiệp dư và có danh tiếng này phần lớn do vị trí xã hội và nhân cách của mình. (Người dịch: ông là người thành lập và là giám đốc phòng thí nghiệm hơn là nhà nghiên cứu cá nhân.)

Người cha chăm chỉ của ông, Bá Tước xứ Cork thứ nhất, được kể là người giàu nhất vương quốc Anh và là người có ảnh hưởng nhất ở Ailen, đã cưới con gái của một lãnh chúa giàu có. Robert, người con thứ 14 của họ, là con trai thứ 7; mẹ ông mất khi ông mới 2 tuổi. Ham học hỏi và trung thực, ông được dạy kèm tại nhà đến khi 8 tuổi, rồi được gởi đến Eton; ở đó, ông phát triển niềm đam mê đọc sách để tích lũy kiến thức. Năm 12 tuổi ông và anh mình là Francis được gởi cùng một gia sư để đi học ở đại lục. Năm 15 tuổi ông được giới thiệu về triết học tự nhiên (giờ gọi là khoa học) và cơ học. Khi cha mất vào năm sau, ông được thừa hưởng một số tài sản, bao gồm trang viên Stalbridge, Dorsetshire. Ba năm sau, ông dành 6 năm ở đó đọc sách (như của Francis Bacon, Descartes, Gassendi) và viết lách (về những vấn đề thần học).

Vào năm 27 tuổi, qua John Wilkins, hiệu trưởng trường đại học Wadham ở Oxford, ông đến sống ở một ngôi nhà ở High Street (nay là Nhà Tưởng Niệm Shelley của Trường Đại Học). Ở đó ông thành lập một phòng thí nghiệm với một đội ngũ nhân viên bao gồm trợ lý (như Robert Hooke), thư ký (ông bị mắt yếu), v.v… Ông thu thập nhiều thứ như kim cương. Bản thân ông tham dự cuộc họp hằng tuần của cái gọi là “trường đại học vô hình” nơi những triết lý thực nghiệm mới được thảo luận. Vào năm 30 tuổi ông được trao bằng Tiến Sĩ Vật Lý Danh Dự bởi Đại Học Oxford. Ba năm sau, ông đến sống với chị mình là Katherine, Quý Bà Ranelagh, ở nhà bà ở Pal Mail, London (ông không kết hôn). (Anh cả ông, là Bá Tước Burlington và Cork, đã xây ngôi nhà Burlington tráng lệ, nơi trở thành trụ sở của Hội Hoàng Gia London.) Nhà của họ trở thành điểm tập trung của xã hội London. Sau vài cơn đột quỵ gây liệt, ông mất năm 61 tuổi và được chôn ở lâu đài St. Martin-the-Fields ở London không kèm nghi lễ gì.

Boyle không có những khám phá khoa học mang tính thời đại. Ông là một giám đốc phòng thí nghiệm hơn là một nhà nghiên cứu cá nhân. Ví dụ, công trình nổi tiếng nhất của ông, Định Luật Boyle, phần lớn là do kỹ năng thao túng của Hooke, người sản xuất bơm không khí năm 1659 (giờ đang ở Thư Viện Hội Hoàng Gia) như được sáng chế 5 năm trước bởi Otto Von Guericke. Quan sát của họ được xuất bản trong bài báo khoa học đầu tiên của Boyle “Về Độ Đàn Hồi Và Khối Lượng Của Không Khí” (1660). Hai năm sau trong một thư trả lời cho Franciscus Linus ông thêm vào phần phụ lục chứa định luật tương quan giữa áp suất và thể tích không khí ở nhiệt độ cố định.

Boyle không tiếp tục các công trình trong lĩnh vực vật lý của mình, nhưng tập trung vào hóa học; ông luôn là người ham thích thuật giả kim. Công trình nổi tiếng nhất của ông là “Nhà Hóa Học Hoài Nghi” (1661), trong đó ông phê bình 4 nguyên tố của người cổ đại (đất, nước, không khí, lửa) và 3 nguyên tắc của các nhà giả kim trung cổ (thủy ngân, muối, lưu huỳnh). Trong phần phụ lục của phiên bản thứ 2 của sách (1680), ông định nghĩa 1 nguyên tố là 1 chất không thể bị phân chia thêm nữa bằng thí nghiệm – như vậy nhấn mạnh về phân tích thực nghiệm.

Năm 162, vua Charles XI thành lập Hiệp Hội Hoàng Gia (bảo trợ bởi thánh Andrew). Boyle là một thành viên sáng lập và nằm trong hội đồng đầu tiên của nó (Hooke được bổ nhiệm làm Người Quản Lý). Trước Isaac Newton, ông là niềm vinh hiển chính của nó; tất cả, ông có 35 bài báo trong những xuất bản của nó. Từ năm 1660 đến 1673, ông xuất bản nhanh chóng. Ông phổ biến khoa học bằng cách trình bày các thí nghiệm khoa học của mình và diễn đạt các triết lý mới cách đơn giản dễ hiểu.

Boye không chỉ là một giáo viên và một nhà tuyên truyền; hơn hết, ông là một tín hữu tham gia việc thuyết giáo, và qua những bài viết của mình, là một tác giả viết nhiều về những chủ đề tôn giáo. Tuy nhiên, ông chỉ có một quyển sách dành cho thần học giáo lý là “Người Tin Lành và Giáo Hoàng”. Ông chống đối chức vụ giáo hoàng và tuyên bố của nó về việc mình làm chủ hội thánh và không thể sa ngã. Hơn nữa, ông không có thiện cảm với mọi chủ nghĩa bè phái. Ông ưa chuộng phương tiện truyền thông của Giáo Hội Anh. Ông ghét cay ghét đắng những xung đột tôn giáo qua các giáo điều và nghi lễ. Dù là một người đi lễ đều đặn, với ông, Cơ Đốc giáo cơ bản là thực hành lối sống thánh khiết, kết bông trái thánh linh, bình an và làm điều lành.

Suốt đời mình, ông tin ở sự dẫn dắt thiên thượng cách cá nhân. Một bước ngoặt xảy ra khi ông 13 tuổi trong một đêm mưa bão ở Geneva; ông đã làm một lời thề nguyện tin kính; 4 năm sau đức tin của ông được thiết lập. Bước ngoặt thứ hai xảy ra khi ông nhận thấy khoa học là “một phương thức để khám phá thiên nhiên và mục tiêu của Đức Chúa Trời;” Tất nhiên ông nhận ra rằng những bày tỏ về Đấng Sáng Tạo trong quyển sách thiên nhiên không quan trọng bằng những bày tỏ về Đấng Cứu Rỗi trong Kinh Thánh. Tất cả mọi công việc và suy nghĩ của ông đều thấm đẫm đức tin, và được viết trong sự khiêm nhường. Ông hiển nhiên đã tránh né những tổ chức tôn giáo để có thể theo đuổi thần học cách tự do và hiệu quả hơn. Năm 1661, theo yêu cầu của Ngài Broghill, một người anh em, ông xuất bản quyển “Một Số Suy Nghĩ Về Phong Cách Viết Của Kinh Thánh”(Some Considerations Touching The Style of the Scriptures), nói đến những vấn đề thường gặp trong dịch thuật liên quan đến khi nào, bởi ai, tới ai, với mục đích gì. Cá nhân ông tin ở những phép màu, e.g. Chúa Giê-xu đi trên mặt biển.

Ông tin rằng việc học tập tìm hiểu về thiên nhiên và về những đặc tính của Đức Chúa Trời là những mục tiêu cao cả nhất của đời sống. Trong quyển “Sự Ưu Việt Của Thần Học, So Với Khoa Học” (The Excellency of Theology, Compared to Natural Philosophy) (xuất bản 1674, viết năm 1665), ông viết “Sự rộng lớn, tươi đẹp, và trật tự của những thiên thể; cấu trúc tuyệt vời của động vật và thực vật, và những hiện tượng thiên nhiên khác là đủ để khiến một người quan sát thông minh, không thành kiến đi đến kết luận rằng (mọi thứ) có một tác giả tối cao, quyền năng, công bằng, và tốt lành.”

Boyle có một niềm đam mê cả đời là giáo dục và truyền đạo Cơ Đốc đến cho người bản xứ ở Ailen, Mỹ, và Đông phương (châu Á). Vậy nên ông tài trợ cho việc dịch Tân Ước sang nhiều ngôn ngữ như tiếng Á Rập, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, v.v.. Ngoài ra, trong di chúc của mình, ông để lại tài chánh cho 8 bài giảng hằng năm ở một giáo xứ ở London “để chứng minh niềm tin Cơ Đốc trước những kẻ ngoại đạo khét tiếng.” Bài giảng Boyle đầu tiên (1662) là “Một bác bỏ chủ nghĩa vô thần” bởi Richard Bentley, lúc đó là Tuyên Úy cho Giám Mục Stillingfleet (sau là Hiệu Trưởng Trường Đại Học Trinity ở Cambridge), tại St. Martin-in-the-Fields (phần còn lại ở St. Mary-le-Bow). Tác giả đã gởi bản thảo cho Isaac Newton, người trả lời bằng bốn bức thư nổi tiếng, nói chung là đồng ý, nhưng thêm một số biện luận hỗ trợ nữa. Bài giảng cuối cùng biện luận về có sự chu cấp thiên thượng trong sự thiết kế tạo dựng của vũ trụ như được trình bày trong quyển Principia (The Mathematical Principles of Natural Philosophy – Những Nguyên Tắc Toán Học Của Khoa Học của Isaac Newton, một trong những công trình quan trọng nhất của khoa học, miêu tả các định luật vật lý bằng toán học).

Người dịch: Richard Huynh
Theo Science in Christian Perspective, The American Scientific Affiliation
https://www.asa3.org/ASA/PSCF/1985/JASA9-85Seeger.html