Từ Thầy Chùa Đến Giang Hồ Thái Lan, Ân Điển Chúa Làm Tôi Tan Vỡ

Được bao phủ bởi rừng xanh và ẩn trong sương mù nhiệt đới, làng Mae Sot gần biên giới Thái Lan – Myanmar nổi tiếng với nghề đá quý và gỗ tếch. Nhưng bên dưới vẻ bề ngoài tươi đẹp này, ngôi làng là trung tâm của hoạt động buôn lậu xuyên biên giới, ma túy, buôn người. Cuộc nội chiến dài hàng thập kỷ của Myanmar có thể cảm nhận ở Mae Sot: cư dân nghe tiếng súng, thỉnh thoảng trải nghiệm chuyện đạn pháo rơi trên đường, và thấy hàng ngàn người tị nạn chạy từ biên giới vào thị trấn của mình.

Giữa những hỗn loạn, mục sư người Thái Somphon Sriwichai tìm cách đem lại ổn định. Hội thánh của ông mở một trường học cho trẻ em nhập cư từ Myanmar và mái ấm cho trẻ em có nguy cơ bị buôn người, và họ cũng cung cấp chỗ ở cho người tị nạn và cứu trợ cho các thảm họa. Chuyện đời mục sư Sriwichai – từ một thầy chùa đến một tên giang hồ đến một mục sư giáo sĩ – thể hiện quyền năng của đấng Christ để biến đổi đời sống, cộng đồng, và cả những nơi như làng Mae Sot. 

Đây là chuyện đời Sriwichai, được kể bởi Kelly Hilderbrand, bạn và đồng nghiệp của ông suốt 27 năm qua.

Được dâng cho chùa

Tôi sinh ra năm 1959 ở làng Nong Bua thuộc Chiang Mai, một vùng núi phía Bắc Thái Lan. Mẹ mất khi sinh tôi. Là một em bé, tôi từng trở nên rất yếu, nhưng gia đình không có tiền cho tôi đi bệnh viện. Thay vào đó, họ mời các bác sĩ truyền thống và thầy mo Thái Lan đến chữa. Họ làm thuốc thảo dược, lễ bài, và cúng tế một con gà, nhưng chẳng cái gì có kết quả. Không còn lựa chọn nào khác, ba đem tôi đến chùa của vùng và hứa với tượng Phật là nếu tôi khỏi bệnh, tôi sẽ trở thành sư. Từ lúc đó, tôi bắt đầu phục hồi.  

Khi 8 tuổi, tôi bắt đầu đến sống trong chùa và sau đó được phong chức làm sư tập sự. Tôi nhớ cha nói với mình rằng tôi không còn là con ông nữa – tôi giờ là con của chùa.

Một ngày ở chùa bắt đầu lúc 3 giờ sáng, khi tôi dậy để ngồi thiền và ghi nhớ kinh Phật. Sau đó, chúng tôi sẽ tụng kinh, cầu nguyện, đi nhận đồ cúng tế, và ăn sáng. Rồi các sư tập sự như tôi sẽ rửa chén dĩa, quét dọn, và đi bộ 2 dặm (3km) đến trường làng.

Cuộc sống của một nhà sư trẻ không dễ dàng, vì chúng tôi không được ăn sau chánh ngọ (12 giờ trưa). Học xong, tôi đi bộ về chùa để quét và làm sạch sân. Buổi chiều, chúng tôi sẽ ngồi dưới chân một sư trưởng để tụng và nhớ kinh Phật. Vào lúc đó, tôi chỉ muốn chơi, ăn, và la hét cười đùa như một đứa trẻ bình thường, nhưng nhà chùa có rất nhiều nguyên tắc và luật lệ.

Khi 19 tuổi, tôi chịu hết nổi: làm sao một người có thể có bình an khi họ đang đói? Đời sống của sư trên chùa không đem lại cho tôi bình an. Vậy nên tôi quyết định rời bỏ đời sống tu hành.

Sa ngã vào bóng tối

Tôi về nhà để sống với ba mình và bắt đầu đắm mình vào các vui thú thế gian: uống rượu, hút thuốc, và những thứ bị nhà chùa cấm khác. Đời sang một trang tối khi tôi bắt đầu chơi với bọn tội phạm, những kẻ buôn bán ma túy và giết người.

Sau khi gia nhập một băng đảng, tôi sớm nhận ra mình phải tuân theo một bộ luật mới. Tôi phải vâng lệnh chúng, nếu từ chối sẽ có hậu quả nặng nề. Tôi luôn thay đổi chỗ ở, trốn tránh cảnh sát và các băng đảng tội phạm khác.

Tôi cuối cùng trú ẩn trong rừng núi xung quanh Chiang Mai, sống với những người cách mạng chiến đấu chống lại chính quyền những năm 70s và 80s. Những trận đấu súng dữ dội xảy ra thường xuyên, và một lần, cảnh sát bắt tôi vì dính dáng với quân cách mạng. Ma túy và rượu trở thành thuốc xoa dịu cơn giận và các cảm xúc dữ dội trong tôi.

Vào một đêm khi tôi 29 tuổi, tôi đang uống say và dùng ma túy với bạn khi nghe người ta ca hát. “Bữa tiệc gì vậy?” tôi hỏi. Anh bạn trả lời, “Đó không phải là buổi tiệc, đó là những Cơ Đốc nhân.” Tò mò, tôi quyết định đến xem.

Tôi đứng trước cửa nhà, nhìn chằm chằm vào đám đông đang ngồi dưới sàn. Tôi biết mình nhìn đáng sợ: một gã say xỉn với tóc dài, râu rậm, áo dơ bẩn, và có cái nhìn phong trần của một kẻ nghiện. Mọi người đều sợ nhìn thẳng vào mắt tôi.

Nhưng người nhóm trưởng nhìn thẳng vào tôi. Ông ta cười và mời tôi vào. Ngay lập tức, tôi không tin tưởng ông. Tại sao lại có người mời một kẻ nguy hiểm vào nhà mình? Tôi ngồi đối diện với người trưởng nhóm, chờ đợi một trận đối mặt.

Sau giờ thờ phượng, tôi thách thức người trưởng nhóm với nhiều câu hỏi. Từng là sư chùa, tôi có thể khiến ông vấp váp bằng những câu hỏi của mình. Nhưng ông đáp lại cách bình tĩnh bằng cách giải thích Phúc Âm cho tôi. “Nếu anh tin, anh sẽ thấy ân điển của Đức Chúa Trời”, ông nói. Tôi tự nghĩ, trong đạo Phật, không có ân điển. Không có sự tha thứ. Nếu ta làm tốt, ta được tốt. Nếu ta làm xấu, ta bị xấu.

Tôi biết rằng, theo đạo giáo của chính mình, tôi đã được định phải tái sinh trong một tầng địa ngục vì những điều xấu mình đã làm. Tôi bắt đầu tự hỏi về ân điển này và hy vọng vào sự tha thứ này. Vậy nên tôi hỏi người trưởng nhóm: “Ân điển này ở đâu và làm sao tôi có thể nhận lấy nó?

Người trưởng nhóm trả lời, “Rất dễ. Anh chỉ cần cúi đầu, nhắm mắt lại, và cầu nguyện theo tôi.” Một cách khó khăn, tôi nhắm mắt lại trong khi vẫn đề phòng, trong trường hợp ông ta tấn công mình. Tôi sẵn sàng bắn nếu ông ta có cử động bất ngờ gì. Nhưng khi tôi lập lại lời cầu nguyện, có cái gì đó trong tôi vỡ ra. Tôi bắt đầu khóc. tôi cảm thấy vô số tội lỗi của tôi đã được tha thứ. Tôi đã được thay đổi nhưng không biết phải làm gì tiếp theo.

Ba tháng sau, tôi đang ở Chiang Mai vào một ngày Chúa Nhật khi tôi thấy một tấm bảng giới thiệu nhóm hội thánh trong một nhà máy. Muốn biết thêm về Chúa Giê-xu, tôi đã bước vào. Mặc dù dáng vẻ giang hồ của tôi, mọi người chào đón tôi cách ấm áp và mời tôi lên hàng đầu. Khi mục sư kêu gọi tin nhận Chúa, tôi cầu nguyện một lần nữa và khóc. Từ ngày đó, tôi xem mình là một Cơ Đốc nhân.

Tôi cắt tóc, cạo râu, và tham gia cộng đồng Cơ Đốc nhân. Tôi không trốn chạy nữa, và thấy rằng chẳng ai đuổi theo tôi nữa. Cảnh sát và các băng đảng đã chán tôi. Sau khi tham gia khóa huấn luyện Kinh Thánh 3 tháng, hội thánh gởi tôi đi giúp một hội thánh mới gieo ở Chiang Dao, cách Chiang Mai 45 dặm phía Bắc.

Đi theo sự kêu gọi của Chúa

Sau một năm ở Chiang Dao, tôi cảm thấy được kêu gọi đến sống giữa người dân tộc Lahu và chuyển đến làng Nongkhiu. Tôi chẳng biết ai ở cộng đồng đó. Trừ một vài bạn trẻ, chẳng ai nói tiếng Thái và tôi không biết tiếng Lahu. Tôi không thể chia sẻ Phúc Âm với họ, nhưng tôi có thể sống giữa họ và làm chứng bằng đời sống mình.

Mỗi sáng, tôi sẽ leo lên một ngọn núi để cầu nguyện. Người dân làng thấy tôi và theo tôi lên núi để xem. Tôi sẽ hát những bài hát thờ phượng và người Lahu hát theo tôi, lập lại các từ và hát theo. Tôi đọc một chương Kinh Thánh trước khi ăn. Những người khác sẽ ngồi với tôi và nghe. Dù họ có hiểu các từ hay không, họ sẽ hiểu qua đời sống tôi. Ngày nay, hàng trăm người trong làng đó là Cơ Đốc nhân, một số thành mục sư, và nhiều người vẫn rất thân với tôi tới giờ.

Sau gần 1 năm, tôi muốn học thêm về Chúa và đi học một trường Kinh Thánh tại quận Fang ở cực bắc Thái Lan. Một lần nữa, sau một thời gian ngắn, hiệu trưởng trường Kinh Thánh thuyết phục tôi đi với ông tới Bangkok để mở một hội thánh ở khu ổ chuột Khlong Toei. Ông nghĩ rằng với quá khứ giang hồ của mình, tôi sẽ có thể chạm đến người dân ở đó. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng Chúa không kêu gọi tôi đến đó.

Một Chúa Nhật năm 1989, tôi chia sẻ với hội thánh Bangkok của mình một giấc mơ tôi nhận được từ Chúa. Trong giấc mơ, tôi thấy một con heo nái đen mang bầu rất nặng nhưng không có chỗ để sinh con. Một người vác nó lên và mang nó đến khi tới ba căn nhà. Con heo liền vùng ra khỏi cánh tay người đàn ông, chạy ra sau căn cuối cùng trong ba căn nhà đó, và sinh ra các con heo con trắng và đen. Chúng bắt đầu bú sữa mẹ. Càng lúc càng nhiều heo con nhóm lại xung quanh heo mẹ cho đến khi nó bị lấp bởi một núi heo con.

Một thời gian ngắn sau, trong một chuyến đi với mục sư mình, tôi đến thăm làng Mae Sot. Đột nhiên, tôi nhận ra đây là nơi mình đã thấy trong khải tượng của mình! Tôi còn thấy ba căn nhà đó. Tôi thuê chúng và mở một hội thánh ở căn cuối cùng.

Mỗi ngày tôi đi dọc ngang Mae Sot và cầu nguyện lớn, và sớm được tiếng là một Cơ Đốc nhân kỳ lạ. Nhưng hội thánh bắt đầu phát triển. Tôi chia sẻ Phúc Âm tại bệnh viện và trạm xe buýt cho bất cứ ai muốn nghe và cầu nguyện với bất cứ ai muốn tin nhận.

Tuy nhiên, tấm lòng của tôi cho người Lahu vẫn không nguội lạnh. Vào Ngày Của Mẹ năm 1990, tôi chạy xe máy của mình tới làng Lahu ở Doi Muser trên những ngọn núi ở trên Mae Sot. Tôi bước vào giữa làng và xin được nói. Khi được phép, tôi bắt đầu giảng Tin Lành. Dù nhiều người tụ tập lại nghe, chỉ hai người có vẻ quan tâm tới thông điệp.

Sau khi giảng xong, hai người đến thử thách tôi. “Nếu Chúa Giê-xu thật sự là một Đức Chúa Trời vĩ đại và có quyền năng này, hãy đến và cầu nguyện cho thầy mo của làng chúng tôi.” Ông thầy mo đã bệnh ít nhất một tuần, nằm một mình trong lều. Tôi đến nhà ông và bước vào một căn phòng tối có mùi mốc. Ông ta rất bệnh, gần như không cử động được. 

Tôi quỳ xuống và trình bày câu chuyện về Chúa Giê-xu cho ông ta. Tô không biết ông có nghe không, nhưng tôi hỏi ông có muốn được chữa lành không. Ông gật đầu. Khoảng 15 phút sau khi chúng tôi cầu nguyện, ông ta ngồi dậy và nấu ăn cho chúng tôi. 2 người đã thử thách tôi và thầy mo đó quyết định theo Chúa Giê-xu. Đây là hội thánh đầu tiên trong số nhiều hội thánh được mở ra giữa những bộ lạc đồi núi xung quanh Mae Sot.

Phục vụ Chúa ở ngôi làng biên giới

Ngày nay, hội thánh tôi ở Mae Sot có các lễ trong 3 ngôn ngữ: tiếng Thái, tiếng Karen (nói bởi một nhóm sắc tộc cùng tên ở Myanmar và Thái Lan), và tiếng Myanmar. Tuy nhiên, vì hầu hết người Myanmar ở Thái Lan trái luật pháp, chúng tôi bắt đầu tổ chức lễ ở nhà thay vì ở hội thánh. Hiện giờ, chúng tôi đang xây một tòa nhà mới có thể chứa 500 người.

Chúng tôi phục vụ cộng đồng bằng cách mở một trường học cho trẻ em của những người nhập cư trong thị trấn. Trước có hơn 300 học sinh, từ lớp 1 đến lớp 7. Chúng tôi cũng có 3 nhà gần hội thánh cho trẻ em có nguy cơ bị bạo hành hay buôn người, 1 nhà cho trẻ nam và 2 nhà cho trẻ nữ. Hội thánh cũng tổ chức một quỹ tương trợ trong những lúc tai họa, như lũ lụt, cháy nhà, và những thảm họa khác. Người tị nạn chạy trốn chiến tranh qua biên giới Myanmar thường sống và ngủ giữa những cây mọc xung quanh hội thánh và chúng tôi giúp cung cấp thức ăn và y tế cho họ.

Giờ tôi nhìn lại, cuộc đời cũ của mình đã qua đi. Tôi từng sống trong bóng tối không có tương lai. Tôi từng sống giữa những người bị xã hội từ bỏ, nhưng Chúa Giê-xu đã biến đổi cuộc đời tôi và kêu gọi tôi phục vụ Ngài. Tôi chỉ tốt nghiệp lớp 9 và chưa từng học Kinh Thánh cho tới khi Chúa cho phép tôi trở thành người làm chứng cho Ngài và phụng sự Ngài.

Tôi muốn kêu gọi và thách thức cả thế hệ trẻ tuổi và lớn tuổi hãy dâng mình phụng sự Chúa. Chúa không cần kiến thức của ta, mà cần trái tim ta. Khi bạn biến đổi đời mình và quyết định đi với Chúa, Ngài sẽ dùng bạn cho các việc lành. Nếu Chúa có thể dùng một người đã chết và vô giá trị như tôi, Ngài có thể dùng bất kỳ ai.

Somphon Sriwichai là mục sư của Hội thánh Mae Sot Foursquare. Kelly Michael Hilderbrand là hiệu trưởng của chương trình Tiến Sĩ Mục Vụ ở Viện Thánh Kinh Bangkok và mục sư sáng lập Hội Thánh Nhà Chúng Ta Bangkok.

Người dịch: Richard Huynh
Theo ChristianityToday.com
https://www.christianitytoday.com/ct/2023/december-web-only/monk-gangster-thailand-pastor-border-myanmar.html